Nguyễn Văn Nên » Kinh tế » Đứng bên lề trái của toàn cầu hóa

(Kinh tế) - Giáo sư Joseph E. Stiglitz (người từng được trao giải thưởng Nôbel cao quý về Kinh tế và đã từng sang thăm Việt Nam trong khuôn khổ các hoạt động tư vấn của UNDP nhằm giúp Chính phủ thực hiện Chiến lược Phát triển Kinh tế-Xã hội) vừa có bài viết đáng chú ý “On the Wrong Side of Globalization” (Đứng bên lề trái của toàn cầu hóa) đăng trên The New York Times. BBT xin gửi đến quý bạn đọc bài viết này.

Hiệp định thương mại là một chủ đề có thể làm chúng ta hoa mắt, nhưng tất cả chúng ta nên chú ý. Ngay bây giờ, những đề xuất thương mại của Hiệp định TPP đang được đàm phán có thể sẽ đẩy phần lớn người Mỹ sang “lề trái của toàn cầu hoá.” Hiện nay những quan điểm mâu thuẫn nhau về các thoả thuận thương mại đang làm phá vỡ cấu trúc của đảng Dân chủ, mặc dù điều này không dễ nhận ra.

Trong Thông điệp liên bang hồi tháng 1, Tổng thống Obama chỉ dành một câu ngắn ngọn để nói về việc thúc đẩy đàm phán Hiệp định TPP với hứa hẹn rằng sẽ tạo thêm việc làm cho kinh tế Mỹ. Tuy nhiên, thực tế là Hiệp định này đang được đàm phán trong bí mật và công chúng Mỹ chỉ được biết đến qua các tài liệu bị rò rỉ. Trong khi đó, Quốc hội Mỹ đã giới thiệu một Dự luật cho phép Nhà Trắng nắm quyền đàm phán nhanh (TPA) để không bị các nghị sỹ Quốc hội cản phá khi đưa ra bỏ phiếu. Điều này tất yếu đã làm bùng lên sự tranh cãi.

Giáo sư Joseph Stiglitz.

Dựa trên những thông tin rò rỉ và lịch sử các thoả thuận qua các cuộc thoả thuận thương mại trước đó, có thể thấy nguy cơ là hiệp định này sẽ làm lợi cho một “nhóm” người Mỹ giàu có nhất và giới tài phiệt của thế giới trên lưng của tất cả những người khác.

Việc một kế hoạch ‘tồi’ như vậy đang được bàn thảo là bằng chứng cho thấy sự bất công đang ăn sâu trong hệ thống chính sách kinh tế của Mỹ. Tệ hơn nữa là các thoả thuận như TPP chỉ là một khía cạnh của vấn đề lớn hơn, đó là sự kém cỏi của người Mỹ trong việc ứng phó với quá trình toàn cầu hoá.

Trước hết, các thoả thuận thương mại ngày nay khác xa với các cuộc đàm phán tập trung vào việc cắt giảm thuế quan thời kỳ hậu Chiến tranh thế giới thứ 2. Các cuộc đàm phán thời kỳ đó đã giúp mang lại nhiều việc làm và nâng cao mức sống từ gia tăng thương mại thông qua phát triển lợi thế cạnh tranh.

Ngày nay, vì thuế đã hạ xuống ở mức thấp nên sự tập trung chuyển sang các “rào cản phi thuế quan”, trong đó quan trọng nhất là các qui định.

Các tập đoàn xuyên quốc gia khổng lồ kêu ca là các qui định không đồng nhất làm tăng chi phí kinh doanh. Nhưng phần lớn các qui định mặc dù không hoàn hảo nhưng tồn tại với lý do, đó là bảo vệ người lao động, người tiêu dùng, nền kinh tế và môi trường; và được các chính quyền áp dụng do đòi hỏi mang tính dân chủ từ người dân. Do đó, khi các tập đoàn kinh tế lập luận cho rằng, họ mong muốn sự hài hoà giữa các qui định, nhưng thực chất đó chỉ là nguỵ biện cho “cuộc đua xuống đáy”.

Khi các thoả thuận như TPP chi phối thương mại quốc tế đồng nghĩa với việc tất cả các nước đồng ý với các tiêu chuẩn chung thấp nhất. Khi đó các tập đoàn xuyên quốc gia có thể áp dụng trở lại các cách làm cũ trước khi có Luật Không khí sạch (Clean Air Act, 1970) và Luật Nước sạch (Clean Water Act, 1972) và trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính, là tự do chạy theo lợi nhuận mà người thiệt thòi là số đông còn lại. Vì vậy, việc để cho đàm phán thương mại diễn ra trong bí mật lại càng nguy hiểm.

Các nước tham gia đàm phán Hiệp định TPP

Những thông tin rò rỉ cho thấy, một số điều tồi tệ không thể chấp nhận được với TPP. Thứ nhất, TPP cho phép các tập đoàn đâm đơn kiện tại một toà án quốc tế không chỉ vì quốc hữu hoá không công bằng mà thậm chí vì cả lý do lợi nhuận giảm sút do các qui định của quốc gia đó. Trường hợp của tập đoàn Philip Morris áp dụng thủ thuật này trong vụ kiện Uruguay áp dụng qui định chống hút thuốc đã làm giảm lợi nhuận không công bằng và vi phạm thoả thuận thương mại giữa Thuỵ Sỹ và Uruguay. Trường hợp này như đã từng xảy ra trong cuộc chiến tranh Nha Phiến khi các nước Phương Tây ép Trung Quốc mở cửa thị trường cho thuốc phiện vì tầm quan trọng sống còn trong việc “sửa sự mất cân bằng thương mại”.

Bên cạnh đó, nhiều điều khoản nằm trong các thoả thuận thương mại khác đang được áp dụng để làm suy yếu các qui định về môi trường và các lĩnh vực khác. Các nước đang phát triển sẽ trả giá đắt cho việc ký các thoả thuận này, trong khi bằng chứng sẽ mang lại đầu tư thì ít ỏi và gây tranh cãi. Không chỉ những nước này là nạn nhân rõ nhất, mà Mỹ cũng sẽ phải gánh hậu quả. Các công ty Mỹ có thể mở chi nhánh ở một nước Thái Bình Dương, đầu tư ngược trở lại Mỹ và sau đó đâm đơn kiện chính phủ Mỹ – quyền mà họ sẽ không có nếu là công ty Mỹ.

Còn nhiều các qui định khó tiêu khác. Trong khi Mỹ đang đấu tranh để cắt giảm chi phí bảo hiểm y tế thì TPP sẽ khiến cho việc sử dụng các loại dược phẩm generic khó khăn hơn và làm giá thuốc đắt hơn. Ở nhiều nước đang phát triển, điều này không chỉ là sự gia tăng nguồn thu của các tập đoàn mà còn làm cho hàng nghìn người dân thiệt mạng một cách không đáng có. Để bảo hộ quyền phát minh, Mỹ có hệ thống bản quyền, vốn được thiết kể để cân bằng giữa lợi ích của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và các mục tiêu cao cả khác: phổ quát kiến thức rộng hơn.

Sự lo ngại gia tăng khi xem xét các tài liệu bị rò rỉ, có thể thấy TPP sẽ tạo thuận lợi hơn cho các ngân hàng Mỹ bán các chứng khoán phái sinh đầy rủi ro ra thế giới, thậm chí làm mầm mống cho cuộc khủng khoảng tương tự như Đại khủng hoảng.

Những người ủng hộ TPP và các thoả thuận tương tự đã dựa trên học thuyết kinh tế không có thật và chỉ vẫn được lưu truyền nhằm phục vụ lợi ích của những người giầu nhất. Học thuyết cũ vốn cho rằng, tự do thương mại là một cuộc chơi cùng thắng vốn dựa trên nhiều giả định, trong đó phần nhiều là sai.

Các học thuyết cũ này sai khi bỏ qua yếu tố rủi ro và cho rằng người lao động sẽ thay đổi việc làm một cách nhẹ nhàng; đồng thời mặc định nền kinh tế luôn ở mức lao động tối đa do đó người lao động bị tác động bởi toàn cầu hoá có thể nhanh chóng chuyển từ các lĩnh vực có năng suất thấp đang được bảo hộ sang các lĩnh vực có năng suất cao.

Ngày nay hơn 20 triệu người Mỹ không thể tìm được việc làm đầy đủ. Hàng triệu người Mỹ đã bỏ tìm việc làm. Có thể thấy rõ khả năng những người làm việc trong lĩnh vực năng suất thấp được bảo hộ sẽ chuyển sang hàng ngũ thất nghiệp. Và điều này tác động tới các những người có việc làm vì sức ép phải hạ thấp lương. Có nhiều cách lập luận cho việc kinh tế Mỹ đang khó khăn, như nhu cầu thấp hay hệ thống ngân hàng vận hành yếu kém, nhưng thực tế cho thấy các thoả thuận thương mại mang đến rủi ro làm tăng thất nghiệp.

Một trong những lý do nước Mỹ đang ở tình trạng hiện nay là do sự kém cỏi trong việc ứng phó với tiến trình toàn cầu hoá. Các chính sách kinh tế của Mỹ khuyến khích việc gia công ra bên ngoài: sản phẩm làm ra từ lao động rẻ ở bên ngoài có thể mang trở lại Mỹ để tiêu thụ. Học thuyết tự do thương mại cho rằng, những người thắng có thể bồi thường cho người thua trong toàn cầu hoá, nhưng không đảm bảo họ sẽ làm như vậy.

Có lập luận cho rằng, nước Mỹ cần duy trì cạnh tranh bằng cắt thuế, giảm lương, cắt giảm phúc lợi và về lâu dài mọi người cùng hưởng lợi. Nhưng theo nhà kinh tế John Maynard Keynes từng tuyên bố “về lâu dài chúng ta đều chết”.

Tình hình chính trị nội bộ nước Mỹ đang làm vấn đề này càng phức tạp. Thượng nghị sĩ Harry Reid, thủ lĩnh phe đa số, đã phản đối mạnh mẽ việc dành quyền đàm phán nhanh và điều này làm an lòng những người phản đối TPP. Tuy nhiên cuộc chiến này chưa phải là kết thúc.

Sự mất công bằng ngày càng tăng ở nước Mỹ hiện nay là hệ quả của hàng loạt chính sách, chương trình và luật pháp của nước Mỹ. Các thoả thuận như TPP sẽ càng góp phần làm tăng sự bất công bằng này. Tăng trưởng tính bằng tổng thu nhập quốc dân có thể tăng, nhưng mức sống của người dân bình thường chắc chắn sẽ bị tác động. Học thuyết kinh tế thẩm thấu (trickle-down) là chuyện không có thật. Làm giàu cho các tập đoàn như hứa hẹn bởi TPP không có nghĩa là sẽ có lợi cho tầng lớp trung lưu, chưa nói đến tầng lớp dưới cùng của xã hội.

CTV Thịnh Mai (dịch từ The New York Times)

(Bài viết của Giáo sư Joseph E. Stiglitz, người đoạt giải thưởng Nôbel kinh tế năm 2001)

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi về banbientap@nguyenvannen.org
Thích và chia sẻ bài này trên Facebook
Share on Facebook! Tweet This!